nhan

Thứ Ba, 23 tháng 6, 2020

HOA ĐÈN


                                                                                   
                                                                         TRẦN ANH CHIẾN



"Qua sông thì phải lụy đò
Tối trời phải lụy đến cô bán dầu"

Mình đang ấp ủ viết về tiếng gọi "đò ơi" ở quê nhà với tâm trạng của một người lữ khách, rồi tâm trạng của người có nhà ven sông và cả tâm trạng của một anh lái đò khi đã có những ngày tháng làm anh lái đò thực sự ngay bến sông quê. Nhưng ký ức về con sông Ngàn Phố sao mà bộn bề đến vậy. Đã từng đi dọc chiều dài con sông quê trên hầu như tất cả phương tiện đường thủy ngày đó., mình chưa biết mở đầu cũng như kết thúc câu chuyện như thế nào. Thôi, cứ tạm lan man về câu ca dao thứ 2 vậy.

Thật ra là mình không hề quen cô bán dầu. Cô ấy ở trong câu ca dao xưa cho nên mình chỉ biết thế này: Trong hoàn cảnh "tối trời" người ta mới nhắc đến cô bán dầu thì chứng tỏ loại dầu mà cô ấy bán không phải là loại dầu ăn dùng để nấu, chiên, xào hay loại dầu gió để xoa mỗi khi cảm mạo, mà đây là dầu đèn, dầu để thắp sáng. Mà cũng chẳng phải là thứ dầu hoả, hay còn gọi là dầu Tây (do người phương Tây đưa sang). Dầu đèn ở đây là các loại dầu thực vật. Mà các bạn thuộc lứa 6x về sau đã nhìn thấy chiếc đèn dầu thực vật chưa nhỉ? Còn nhớ hồi ở quê, có lần chui lên chạn (dạng gác lửng để tránh lụt), mình tìm thấy một vật rất lạ. Nó được làm bằng đồng, hình dáng hơi giống cây đèn để bàn ngày nay. Cũng có một chân đế hình tròn và một cái cần cong cong., phía dưới treo một cái đĩa cũng bằng đồng, trông như đĩa cân nhưng nhỏ và sâu hơn. Bà bảo đó là chiếc đèn dầu lạc ngày trước. Mới đây mình có hỏi thêm về đèn dầu lạc thì mẹ bảo: "Bấc đèn dầu lạc không làm bằng vải mà bằng ruột của một loại cây mà ta gọi là ruột bấc. Ngày trước, dân Nghệ Tĩnh trồng được nhiều lạc nên thường dùng đèn dầu lạc; miền núi và trung du phía Bắc có nhiều dầu trẩu, dầu sở; riêng miền Nam chủ yếu là dầu dừa với 2 xứ dừa nổi tiếng là Tam Quan (Bình Định) và Bến Tre. Còn nhớ hồi cấp I có bài thơ nói về tâm trạng của một em bé tập kết ra Bắc:

"Xa ba năm vẫn nhớ
Em nhớ gian nhà nhỏ
Sáng ngọn đèn dầu dừa"

Lại kể về cô bán dầu. Cho dù ông cha ta có quan niệm "sống dầu đèn, chết kèn trống", nhưng ngày trước đời sống khó khăn nên dân ta dùng đèn dầu rất tiết kiệm. Hễ có được những đêm "trăng thanh gió mát" là khỏi thắp đèn. Mâm cơm bày ra sân. Xong bữa, bố ngồi trên chõng tre uống nước chè và hút thuốc lào. Mẹ ngồi sàng gạo. Lũ trẻ chui nhủi chơi trốn tìm khắp vườn. Còn những đêm tối trời thì mọi nhà đều đi ngủ sớm để tiết kiệm dầu. Với mẹ hay bà thường tảo tần thức khuya dậy sớm thì cũng tranh thủ làm những việc không cần tới đèn. Nhưng cũng có những đêm khuya nhà bất chợt có việc mà đèn lại hết dầu nên đành phải đến nhà cô bán dầu. Lúc này (nhất là những đêm rét mướt), cô ấy đã cuộn tròn trong tổ ấm. Phải trình bày hoàn cảnh, phải nói khó, tóm lại là phải "lụy". Thôi, quan trọng là tình làng nghĩa xóm "tắt lửa tối đèn có nhau" nên cô cũng chịu khó giải quyết sau vài lời càu nhàu. Ấy thế mà có một trường hợp, dù bất cứ hoàn cảnh nào người ta cũng không nghe cô bán dầu phàn nàn lấy một tiếng. Đó là anh học trò nghèo ở cuối làng. Học trò thì theo nghiệp đèn sách. Nhà nghèo nên không thể mua được nhiều dầu để dự trữ. Mùa thi đã tới gần. Anh học trò phải "sôi kinh nấu sử" thâu đêm suốt sáng. Bởi thế, chuyện đêm khuya hết dầu đối với anh là rất thường xuyên. Lại nữa, anh chàng không chỉ phiền lụy đêm hôm mà còn hay mua chịu. Số nợ tiền dầu ngày càng dài ra. Rồi một hôm, người dân kéo ra đầu làng để chứng kiến "võng anh đi trước, võng nàng (bán dầu) theo sau". Thế là anh học trò nghèo vừa trả được cái nợ ân tình, vừa khỏi phải trả món nợ dầu đèn. Có bà mẹ thầm nghĩ: "Giá mình cũng sắm cho cái hĩm một gánh dầu . . . ".
 Những tưởng kết thúc như vậy là có hậu, là vẹn cả đôi đường. Thế mà có người lại bảo: Anh học trò nghèo có thể không phải "lụy đến cô bán dầu" nếu biết vượt khó bằng cách dùng đèn đom đóm như cụ Mạc Đĩnh Chi thuở nào. Ấy chết, nói vậy chứng tỏ bạn chưa đọccuốn "Đom đóm học nhập môn". Vào những đêm tháng 3 (Đom đóm bay ra hoa gạo đỏ, mình thường cùng lũ trẻ trong xóm đuổi bắt đom đóm. Vì đã đọc
chuyện Mạc Đĩnh Chi nên có lần mình đã tóm gần chục con đom đóm loại to, sáng cho vào một vỏ trứng gà. Rồi mình soi vào một cuốn sách. Hỡi ôi, không thể đọc được một chữ, dù cỡ chữ nhỏ hay to. Thì ra, đom đóm thì lập lòe (sáng-tắt), mà chúng đâu có đồng loạt lóe sáng. Hơn nữa, chúng đâu có nhất loạt phưỡn bụng ra phía trước để mà làm đèn. Lại nữa, nếu không che miệng vỏ trứng lại thì lũ đom đóm sẽ bay đi hết. Mà đậy lại thì làm quái gì gọi là đèn nữa. Hóa ra, đèn đom đóm của cụ Mạc Đĩnh Chi chỉ là một giai thoại nhằm tôn vinh tinh thần vượt khó của anh học trò nghèo. Ấy thế mà gần đây lại có bài báo viết về một tấm gương học trò vào những năm 60 cũng vượt khó bằng đèn đom đóm!!! Thế mới nói, muốn mượn chuyện xưa để nịnh thì cũng phải đọc qua một lần cuốn "Đom đóm học nhập môn" sắp sửa ra mắt chứ.
 Khi nói đến một cuộc cách mạng thì người ta thường nghĩ đến những sự kiện "long trời lở đất" nhằm thay thế cái cũ bằng cái mới tiến bộ hơn. Việc "đèn dầu Tây" thay cho "đèn dầu Ta" (theo tớ) cũng là một cuộc cách mạng trong đời sống của người Việt nhờ vào 2 đặc tính hơn hẳn của nó là: sáng hơn và di chuyển thuận tiện hơn. Nhưng việc đèn dầu Tây (còn gọi là đèn dầu hỏa) thay thế đèn dầu Ta (đèn dầu thực vật, đèn đĩa) ở xứ ta là một quá trình khá dài. Theo anh Google thì vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ Xx, một công ty của Mỹ khi vào Việt Nam đã bán kèm dầu hỏa là chiếc đèn do họ sản xuất. Và từ đó, dân ta gọi đèn dầu Tây là đèn Hoa Kỳ. Nhưng cũng phải đến thập kỷ 60 của thế kỷ XX thì đèn Hoa Kỳ mới hoàn toàn thế chỗ của đèn đĩa xứ mình. Thú vị hơn, khi người Việt hầu như đều đã xài đèn điện thì Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc vừa tặng Tổng thống Donal Trump một chiếc đèn dầu Hoa Kỳ bằng gốm Bát Tràng nhân dịp kỷ niệm 25 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt - Mỹ (1995-2020).
Với mình, suốt 10 năm tuổi học trò đều gắn bó với chiếc đèn Hoa Kỳ. Tuy vậy, 7 năm cấp 1, cấp 2 học ở nhà nên chuyện dầu đèn do mẹ lo liệu. Chỉ những năm học cấp 3 ở Trường chuyên Phan Bội Châu (Nghệ Tĩnh) thì tớ mới có quyền độc lập, tự chủ trong lĩnh vực dầu đèn. Bởi khi bố mẹ đưa con đến ở nội trú thì đều lo sắm cho con hầu hết mọi tư trang, vật dụng phù hợp với gia cảnh. Riêng mỗi đèn dầu là thằng bé được toàn quyền. Đơn giản là không thể lịch kịch tha đèn, rồi bóng đèn, rồi dầu hỏa từ huyện xuống Vinh. Mà vào năm 1979, trường tôi nằm sâu trong xã Hưng Lộc nên mang tiếng ở thành phố nhưng không có điện. Thế là ra chợ Cọi mà sắm thôi. Hàng đèn ở phía gần trong cùng. Thuở ấy, đèn dầu thường làm bằng sắt tây. Do hàn thiếc nên có những chiếc bị hở mối hàn ở bình. Đúng là hết khổ! Dầu cứ lai rai rỉ ra. Vừa hôi vừa tốn của. Lấy xà phòng cục mà trét nhưng cũng chỉ "ba bảy hai mốt ngày" là phải sắm chiếc khác. Bởi vậy ta phải cẩn thận. Trước hết, tháo ổ đèn ra. Rồi ngậm mồm vào bình mà thổi. Thổi thật lực. Thổi đến lúc hơi phì ra 2 lỗ tai mà hơi trong bình vẫn không suy chuyển là đạt chuẩn! Rồi đến ổ đèn. Bộ phận này cấu tạo phức tạp hơn, nhưng chỉ cần vặn thử mà bấc lên xuống trơn tru là ổn. Xong hạng mục cốt yếu thì chuyển sang chọn bóng đèn, hay còn gọi là "chụp đèn" (bởi nó chụp lên ngọn đèn). Bóng đèn đựng trong mấy chiếc thúng to, được xếp thành nhiều lớp, giữa các lớp phải lót rơm. Trước hết, ta nhẹ nhàng cầm lên một chiếc bóng rồi dùng vạt áo lau sạch phía ngoài. Tiếp đó, lấy ngón tay luồn vào vạt áo rồi chùi bên trong. Xong, ta đưa lên mà soi. Ngoài chuyện không nứt, thì bóng đèn phải trong, không một bọt khí, nếu không thì bóng sẽ mờ và dễ vỡ. Ngày đó, có người (thường ở xa chợ) mua một lúc cả chục chiếc bóng đèn để dùng dần. Họ xâu bóng đèn thành một vòng rồi . . . đeo lên cổ!!! Bây chừ mà trông thấy cảnh đó thì chắc là ngộ lắm. Nhưng hồi đó thì cũng thường thôi. Bởi dù là đi bộ hay xe đạp thì đó vẫn là biện pháp hữu hiệu nhất nhằm bảo đảm an toàn cho chuỗi bóng đèn. Cuối cùng là dầu, có thể là dầu hỏa hoặc dầu mazut. Nếu cô bán dầu ngày xưa dùng thùng gỗ mà đựng thì bà hàng dầu ngày nay có thùng sắt tây. Nhưng can nhựa thì còn hiếm lắm. Chai mua dầu thường được buộc một sợi dây, tạo ra một cái vòng rồi người ta xỏ ngón tay vào mà xách để khỏi dính dầu. Hôi lắm. Vả lại, đó cũng là cách khỏi lẫn chai dầu hỏa với các chai khác. Đến cái nút chai cũng có chuyện mà kể. Nếu là rượu hoặc nước mắm thì dùng lá chuối khô; còn nút bằng giấy thì phải lấy một miếng nilon bọc ngoài nếu không thì giấy bị ngấm sẽ bở ra. Trong khi đó, chai dầu thì nút bằng giấy vô tư, bởi dầu sẽ làm cho giấy chắc hơn.
Buổi tối, lũ học trò chúng tôi học ở trên lớp từ 7 giờ đến 10 giờ đêm. Cặm cụi suốt mấy tiếng bên chiếc đèn dầu nên sáng rửa mặt thì chỉ cần ngoáy một phát vào mũi là chiếc khăn đen sì một lớp. Nhất là dầu mazut. Phía trên ngọn đèn là cả một dải khói đen trông rõ mồn một. Có đứa lấy bìa cuộn thành ống nối lên bóng đèn như ống khói nhưng cũng chẳng ăn thua. Tuy vậy, nhớ nhất là những lúc đang chăm chú học thì ngọn đèn cứ lụi dần, lụi dần rồi tắt hẳn. Chỉ còn một đốm than của bấc đèn. Thế là dầu đã cạn. Nhưng cũng phải lắc lắc để kiểm tra. Nếu vẫn còn non nửa bình thì chứng tỏ do bấc ngắn. Nếu chai dầu cũng hết thì đi ra giếng. Cứ cho nước giếng vào là dầu nổi lên và đèn lại sáng. (Chẳng kém chi công nghệ bơm nước ép vỉa dầu của Vietsovptro thời nay!!!). Nhưng công nghệ này bất cập ở chỗ là bấc ngấm nước sẽ bị thối. Chạy ra chợ Cọi mua một sợi bấc thì mất công quá. Mà lại mất tiền nữa. Cho dù chỉ độ 1 hào/sợi. Nhưng nghĩ mà xem: 5 hào 1 gói xôi bắp, 2 hào 1 miếng kẹo lạc. Còn 1 hào thì mua được món gì nhỉ? Đúng rồi, "kẹo cục múc". 3 chiếc/1 hào. Đó là thứ kẹo đứng chót bảng. Nó được làm bằng 100% mật mía. Thảng hoặc người ta cho thêm chút gừng. Mà không có cũng chẳng sao. Điều cốt yếu của mọi thứ kẹo là phải lấy cái ngọt làm trọng! Thế đấy, ra chợ vừa mất công vừa mất tiền. Chỉ cần tìm một miếng vải cũ cuộn lại là có ngay một sợi bấc!
Trường hợp dầu đã cạn sạch thì hoặc là chạy về phòng ngủ mà đổ vào. Nếu chẳng may chai cũng hết thì mượn đỡ từ đèn của bạn. Chuyện mượn dầu này cần lưu ý: thứ nhất, khác với xin mực, mượn dầu là phải trả; thứ hai, rót dầu từ đèn sang thì phải rất khéo, nếu không sẽ đổ ra ngoài. Tệ nhất là đổ ra vở, những trang đó coi như bỏ vì không "ăn" mực nữa.
(Ơ, lại lan man rồi, Hoa đèn là có thật không đấy?). Ô, hoa đèn là có thật nhưng hiếm gặp lắm. Đó là vào một đêm thật khuya. Sau mấy tiếng mải mê sách vở, chàng thiếu niên ngẩng lên, chợt sững người khi bắt gặp hoa đèn đang rực hồng trong ngọn lửa. Nếu mô tả chân thực thì hình dạng, kích thước của nó giống như hạt phôi trong hạt ngô luộc. Nhưng với chàng thiếu niên thì đó là một con tim đang thổn thức. Chúng bạn truyền nhau: hoa đèn là điềm báo về một điều thiêng liêng đang tới. Hỏi gặng thêm chút nữa thì mới hay rằng có một người đang nghĩ về bạn. Đó quả là điều thiêng liêng và kỳ diệu! Và lúc này, chắc người đó cũng đang có một bông hoa đèn, bởi cũng đang có một người nghĩ về bạn ấy.
Đêm ấy, chàng thiếu niên là người ra về cuối cùng. Chàng thổi ngọn đèn bằng một làn hơi thật nhẹ với mong ước rằng bông hoa đèn sẽ không rụng để tối mai lại được ngắm nhìn và mong ước.
Nhưng hoa đèn chỉ là điềm báo. Mà điềm thì chỉ báo một lần mà thôi. Hoa đèn ơi!
                                                                                                       TAC


Thứ Hai, 15 tháng 6, 2020

THẦY HIỆU TRƯỞNG ĐINH VĂN THÔNG



(Bài phát biểu của thầy Đinh Văn Thông – Hiệu trưởng nhà trường từ năm 1974 đến 1996, tại Lễ kỷ niệm 50 năm hệ chuyên, 40 năm thành lập trường và đón nhận danh hiệu Anh hùng Lao động ngày 23/3/2014)

-  Kính thưa đ/c Trương tấn Sang, ủy viên Bộ chính trị, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam!
- Kính thưa đ/c Uông Chu Lưu, Phó chủ tịch Quốc hội.
- Kính thưa các vị đại biểu!
- Kính thưa các thầy, các cô cùng các em học sinh thân mến!
Tại buổi lễ kỷ niệm 50 năm thành lập các lớp chuyên; 40 năm thành lập trường và đón nhận danh hiệu anh hùng lao động của Trường chuyên Phan Bội Châu.  Được vinh dự phát biểu, tôi xin nêu một số cảm nhận khi về dự buổi lễ trang trọng này.
Trở về với mái trường xưa, lòng tôi tràn ngập niềm vui và niềm tự hào.
Sau 10 năm các lớp chuyên đặc biệt ra đời, năm 1974 ngôi trường đầu tiên đã được thầy, trò sáu lớp khóa 1, 2, 3 tạo dựng nên bằng tranh tre nứa mét ở xã Diễn Thành – huyện Diễn Châu. Tại ngôi trường đơn sơ này, ngày 15/10/1974 thầy trò chúng tôi vinh dự được đón Bác Nguyễn Sỹ Quế, TW Ủy viên, bí thư Tỉnh ủy Nghệ An, dẫn đầu đoàn Đại biểu cấp tỉnh về trường để dự buổi lễ công bố Quyết định và chứng kiến sự ra đời của mái trường mang tên nhà chí sĩ yêu nước Phan Bội Châu. Đây là ngôi trường chuyên ra đời đầu tiên của Miền Bắc, sau này là cả nước. Nhớ lại sự kiện này, một lần nữa khẳng định: Tại thời điểm đó Đảng Bộ, Chính quyền tỉnh Nghệ An đã có một quyết định sáng suốt, có tầm nhìn xa, trông rộng. Ngôi trường ra đời là nơi quy tụ, là nơi ươm mầm cho những tài năng trên mảnh đất giàu truyền thống yêu nước, cách mạng,  đất học của xứ nghệ.
Hơn nửa cuộc đời đi dạy của mình, tôi rất tự hào vì đã được làm quản lý, được giảng dạy gần 23 năm ở mái trường chuyên “ Thầy ra Thầy”, “Trò ra Trò”.
Thời ấy, đội ngũ thầy giáo của trường là đội ngũ giàu trí tuệ, giàu trách nhiệm và lương tâm nghề nghiệp, giàu lòng nhân ái, vị tha. Học trò là những lứa học sinh được tuyển chọn từ hàng triệu học sinh phổ thông trên đất Nghệ An, Hà Tĩnh. Các em học trò cũng giàu trí tuệ, hồn nhiên, biết chịu khó, chịu khổ để học, để vươn lên.
Thời ấy, tình thầy trò, tình bạn, đạo lý con người, được gieo mầm, đúc kết vững chắc để xây nên mái trường này. Thời ấy,  tuy  thiếu thốn về vật chất, nhưng đầy ắp tình người, tình thầy trò.
Về dự hội trường là cơ hội sau nhiều năm được gặp lại bạn bè, đồng nghiệp, các lứa học sinh cũ. Nhiều thầy cô nghỉ hưu đã lâu nhưng vẫn mạnh khỏe. Điều tôi mừng nhất là con cháu của các thầy cô, cán bộ nhân viên của trường đều phát triển tốt. Các thế hệ học trò cũng đã trưởng thành. Nhiều em đã thành đạt trên các lĩnh vực: Tham gia bộ máy lãnh đạo của Đảng, bộ máy quản lý của nhà nước, kinh doanh, quân sự, nghiên cứu khoa học, nhà giáo, nhà báo, nhà văn, thầy thuốc, luật sư, kỹ sư…trên khắp mọi miền đất nước và ở nước ngoài. Dù ở đâu, đảm nhận công việc gì, các em cũng đem hết năng lực, trí tuệ, trách nhiệm công dân để phục vụ đất nước. Các em luôn nhớ về mái trường, nhớ về thầy cô, bạn bè. Đấy là món quà lớn nhất mà các em đã giành cho các thầy, các cô, giành cho mái trường.
Trong niềm vui khôn xiết hôm nay, tôi vẫn bồi hồi và thương tiếc cho các thầy cô đã sớm về cõi vĩnh hằng. Đó là: Thầy Dương Tiến Vinh; Thầy Trần Lê Thận; Thầy Dương Đình Thanh; Cô Hoàng Thị Minh; Thầy Lê Khuê Nghệ; Thầy Nguyễn Hữu Đắc; Thầy Nguyễn Trọng Huấn; Thầy Trần Quang Cư; Thầy Phan Văn Chấn; Thầy Nguyễn Đình Phi; Thầy Hoàng Khánh Đài…
Các thầy, các cô đã không còn cơ hội để được chứng kiến niềm vui hội tụ hôm nay.
Kính thưa các vị đại biểu, các thầy cô, cùng các em học sinh.
       Năm mươi năm thành lập lớp chuyên, bốn mươi năm thành lập trường chuyên – một chặng đường, con số và sự kiện về các lớp chuyên, về trường chuyên Phan Bội Châu, được báo cáo của đồng chí Hiệu trưởng Đậu Văn Mùi vừa dẫn ra, nói lên rằng: Các thế hệ thầy cô giáo, học trò lớp chuyên, trường chuyên Phan Bội Châu suốt những năm qua đã đoàn kết, chung sức, chung lòng, phấn đấu liên tục, phấn đấu hết mình cho mái trường tồn tại, phát triển đạt danh hiệu anh hùng như hôm nay.
Đạt được danh hiệu đơn vị anh hùng lao động là rất hiếm ở hệ thống trường chuyên trong toàn quốc. Phấn đấu để đạt được danh hiệu trường anh hùng là rất khó, nhưng giữ gìn, vun đắp, tỏa sáng phẩm chất anh hùng, cho mọi người noi theo, làm tấm gương soi không bị mờ, lại càng khó hơn rất nhiều.
Vì vậy, tôi mong muốn, từ truyền thống tốt đẹp mà các thế hệ thầy trò đi trước và hiện nay đã dày công xây dựng, vun đắp – truyền thống sẽ là điểm tựa để thế hệ thầy trò hôm nay, mai sau rèn luyện, phấn đấu xây dựng mái trường Phan Bội Châu đạt tầm cao mới. Nhà trường luôn luôn xứng đáng với danh hiệu anh hùng, danh hiệu cao quý mà Đảng, Nhà nước, nhân dân đã trao cho; xứng danh với ngôi trường mang tên nhà chí sỹ yêu nước Phan Bội Châu trên quê hương Bác Hồ kính yêu. Hy vọng, mái trường Phan Bội Châu mãi mãi là niềm tin yêu, niềm tự hào của mỗi chúng ta.
Chúc các vị đại biểu, các bạn đồng nghiệp, các em học sinh nhiều thế hệ dồi dào sức khỏe, thêm nhiều niềm vui và hạnh phúc.
                                                                  Xin trân trọng cảm ơn!


Thứ Năm, 11 tháng 6, 2020

CỤ CỬ PHONG

Thầy Lê Thái Phong


                                                                                   
                                                                               THÁI VĂN SINH


Hè năm 1979, sau kỳ thi tuyển từ Cấp 2 Năng khiếu tỉnh lên Cấp 3 Năng khiếu Phan Bội Châu, gặp cậu bạn Chu Vĩnh Hải, người đã đến nhập học trước mấy ngày, tôi hỏi:
-          Cậu gặp chủ nhiệm lớp rồi à, thế nào?
-         Thầy giáo, đẹp trai, có ria con kiến. Thầy mới chuyển từ Hương Sơn về - Hải trầm trồ.
Thế rồi chúng tôi gặp thầy và thầy đã cuốn hút chúng tôi ngay từ những giờ giảng đầu tiên. Kiến thức thâm sâu, bài giảng mở và đặc biệt là có rất nhiều tri thức luân lý. Chúng tôi không chỉ được học kiến thức văn chương  mà còn được học những kiến thức làm người. “Văn học là nhân học”, dạy văn chính là dạy làm người. Đó là triết lý giáo dục của thầy. Những kiến thức văn chương và những kiến thức làm người mà chúng tôi học từ thầy đã theo suốt cuộc đời chúng tôi. Chúng tôi gọi thầy trìu mến là Cụ Cử Phong.
Vào đại học tôi không  học Khoa Văn nhưng những kiến thức văn chương mà tôi có để sử dụng cho đến nay đa phần có được từ những giờ giảng của thầy trong 3 năm học cấp 3. Tôi đi dạy, làm báo, làm văn đều từ cái nền tảng kiến thức mà thầy đã dạy. Kỳ lạ là những kiến thức đó cho đến nay tôi vẫn “đủ dùng”. Không phải là lạc hậu đâu vì tôi đã từng khảo nghiệm nhiều bạn Tốt nghiệp Khoa Văn  nhiều trường đại học nhưng các bạn ấy vẫn không có được khá nhiều những  kiến thức văn chương cơ bản mà thầy đã dạy chúng tôi. 
Cũng như văn chương, việc làm người của chúng tôi mang đậm dấu ấn của thầy. Chúng tôi chẳng bao giờ quên được lời thầy: “Hàn vi chi giao bất khả vong”. Chính vì vậy mà cả lớp trên 30 bạn dù đã gần 40 năm ra trường mà tình cảm vẫn gắn bó như ngày xưa, không phân biệt sang hèn, giàu nghèo. Ứng xử trong cuộc sống, chúng tôi vẫn nhớ nguyên lý thầy từng dạy: “Cái quan định luận” (Khi người ta mất đi, đóng nắp hòm lại mới có thể kết luận người ấy tốt xấu ra sao) để không hồ đồ, hấp tấp trong việc nhìn người, ứng xử với người. Thầy còn khuyến khích chúng tôi sống phải có cá tính, có góc cạnh, bản sắc riêng, không được “mài hết góc cạnh để tròn như hòn bi ve” (nguyên văn lời thầy hay dùng). Chính vì vậy mà giữa bao biến động của cuộc đời chúng tôi vẫn là chính mình, sống theo luân thường đạo lý và biết tôn trọng sự khác biệt.
Gần 40 năm, học trò bao thế hệ vẫn luôn nhớ về thầy. Riêng chúng tôi, nhóm học trò công tác ở Nghệ Tĩnh thì đã thành lệ, mỗi năm ít nhất 1 lần vào dịp 20/11 hoặc dịp Tết đều rủ nhau đến thăm thầy.
Không biết các bạn như nào nhưng đối với tôi, thầy Lê Thái Phong là người thầy ấn tượng  nhất trong suốt cả chặng đường học tập của mình. Hôm nay nghe tin thầy ốm nằm viện cả tháng trời mà giờ mới biết, viết mấy dòng về thầy cho đỡ áy náy tâm can, để Chủ Nhật này (14/6/2020) rủ cả bọn ra thăm Cụ Cử Phong./.
                                                                                     11/6/2020
                                                                               THÁI VĂN SINH






Thứ Năm, 4 tháng 6, 2020

“GIÁO SƯ PYRIT”




THÁI VĂN SINH


Đó là biệt danh các bạn đặt cho tôi những năm cuối cấp III (Thời đó trường có tên gọi là cấp III Năng khiếu Phan Bội Châu và chỉ có 2 lớp chuyên Văn và Toán). Biệt danh này gắn với một câu chuyện rất thú vị.

Chuyện là năm 1980, Trường cấp III Năng khiếu Phan Bội Châu được tỉnh đồng ý cho xây dựng cơ sở mới tại Hưng Bình, ngay bên cạnh Trường cấp III Vinh 1, cách trường cũ ở Hưng Lộc khoảng 10 km. Cơ sở cũ của trường từ 1976 đến lúc đó là cơ ngơi của Ty Giáo dục Nghệ Tĩnh chuyển giao lại, rất cũ kỹ, đơn sơ trên một vùng cát trắng.

Trường chuyển trong điều kiện khó khăn nên hè 1980, học sinh phải tham gia lao động để xây dựng trường và chuyển trường. Mặc dù là những thư sinh suốt ngày chỉ biết sách vở nhưng chúng tôi cũng lao động hăng hái ra trò: trồng cây, dọn vệ sinh, vận chuyển cơ sở vật chất, san lấp mặt bằng…Mỗi ngày phải đi bộ cả chục cây số từ trường cũ lên trường mới lao động, đói, mệt nhưng thật vui. Điều mà chúng tôi sợ nhất không phải là lao động vất vả mà sợ đào phải hài cốt. Nơi đây trước kia là bãi tha ma người chết đói năm 1945, khi xây dựng phát hiện và cất bốc vô số hài cốt trông đến sởn người. Vì vậy năm sau chuyển lên ở, dù đã là học sinh lớp 12 nhưng nhiều bạn buổi tối đi đâu vẫn phải rủ bạn đi cùng vì sợ “ma”.

Nói về lao động xây dựng trường, công việc khoái nhất lúc đó của chúng tôi là trồng cây. Nhiều cây học sinh khóa (1979-1982) chúng tôi trồng dạo đó giờ đã thành cổ thụ, mỗi khi về lại gợi nhớ biết bao kỷ niệm.

Nhưng có một kỷ niệm rất thú vị là trong đợt lao động này tôi đã phát hiện và có cả một kho “kim cương”. Số là trong lúc lao động  san lấp mặt bằng, tôi phát hiện có 3 tảng đá có những hạt có cấu trúc hình kim tự tháp, màu vàng lấp lánh. Nó giống những viên kim cương to bằng hạt ngô. Tôi đã đập cả 3 tảng đá này và có được gần 40 viên. Những tảng đã này được đơn vị xây dựng lấy từ rú Mượu, một ngọn núi thuộc dãy Đại Huệ giáp ranh giữa Nam Đàn và Vinh. Với kiến thức đã học về hóa học tôi nghi nó là kim cương, chỉ có băn khoăn là thường kim cương có màu trắng, mà sao nó lại màu vàng. Tối về trường cũ, tôi lấy một tấm kính vỡ và thử rạch lên thì thật kỳ lạ, hạt này cắt được kính. Tôi mừng rơn, reo thầm trong bụng:  “Cắt được kính thì là kim cương rồi. Giàu to rồi. Phen này có tiền để xây tường và lợp nhà cho bố mẹ và các em tôi từ nay no rồi!”. Nhà tôi rất nghèo, cái nhà cất được bộ khung từ năm 1979 mà chẳng có tiền để xây tường, lợp ngói, cứ toang hoác gió mưa. Cơm cũng thường chẳng đủ ăn, quanh năm cơm độn sắn, khoai mà cũng chẳng đủ no. Vì vậy ý nghĩ đầu tiên của tôi lúc đó chỉ đơn giản vậy thôi. Tôi cất kín các hạt “kim cương” và chỉ để lại 3 hạt cho Chiến và Tiến biết và làm lại  “thí nghiệm” cắt kính cho cả bọn xem. Hai thằng cũng tin sái cổ. Chúng tôi mang 3 viên đá này đến hỏi cô Hương dạy Hóa. Cô xem xét và tỏ ý phân vân vì ngoài một số điểm giống đã nói thì kim cương không như vậy. Muốn xác định đúng nó là gì thì phải hỏi cơ quan chuyên môm. Lúc bấy giờ  Tiến “phẹt” chợt “thông minh đột xuất”, có ngay  sáng kiến rất “khoa học”, là đưa đến Liên đoàn địa chất 4 hỏi thì sẽ chính xác. Trường cũ của chúng tôi ở Hưng Lộc sát ngay Liên đoàn địa chất 4, như vậy đề xuất này là chuẩn xác. 
Sau một đêm trằn trọc, sáng hôm sau cả 3 thằng đi ra Liên đoàn địa chất 4. Nghe 3 đứa trẻ chúng tôi giới thiệu là học sinh Phan Bội Châu và lý do đến đây, bác bảo vệ nhiệt tình hướng dẫn chúng tôi đến Phòng Kỹ thuật. Tiếp chúng tôi là bác Trưởng phòng nhìn rất hiền hậu. Sau khi nghe chúng tôi trình bày và nhìn “hiện vật” bác phán ngay:

-  "Không phải kim cương đâu. Đó là Pyrit các cháu ạ”. Có lẽ trong đời tôi, cho đến tân bây giờ, câu nói này là câu nói mang đến cho nỗi thất vọng lớn lao nhất. Vì rằng tôi vẫn là một đứa trẻ thơ ngây, rất dễ tổn thương.

Thấy chúng tôi hoài nghi bác tiếp tục giải thích:

-  “Pyrit hay pyrit sắt, là disulfua sắt với công thức hóa học FeS2.  Còn nó cắt được kính vì nó có độ cứng là 5 trong khi kính chỉ có độ cứng là 4”.

           Thấy chúng tôi vẫn đầy hoài nghi, bác mỉm cười trao lại cho chúng tôi 3 hạt “kim cương” và nói:

           - "Bác hiểu các cháu chưa tin bác nhưng bác cũng thông cảm cho các cháu vì ánh kim và sắc vàng đồng từ nhạt tới thông thường của khoáng vật này đã tạo nên tên hiệu riêng của nó là vàng của kẻ ngốc do nó trông tương tự như vàng. Nhiều người đã lầm chứ không phải các cháu".

          Chúng tôi ra về mà lòng vẫn hoài nghi. Tôi không chỉ tiếc mình mất đi bao nhiêu là “kim cương” mà còn tiếc cả số tiền bữa sáng đã đãi Tiến, Chiến vì nghĩ rằng mình sắp giàu. Và tiếc nhất là tan vỡ cả dự định xây tường, lợp nhà cho bố mẹ và sự no đủ cho các em. Còn 2 đứa bạn của tôi cũng tiếc hùi hụi những hứa háo của tôi với chúng nếu đó là kim cương thật.

Tôi tặng 2 đứa mỗi đứa một viên làm kỷ niệm. Còn riêng mình vẫn chưa tin nên  gói gần 40 còn lại đưa về nhà. Những viên đá ấy tôi giữ làm kỷ niệm nhưng tiếc là tủ nhà tôi bị mối mọt, cả một đống sổ tay ghi nhật ký, thơ…đã bị mối ăn hết. Những viên đá kia mẹ tôi cũng đã không biết nên đã đổ đi cùng đống giấy bị mối ăn.

Sau lần đó thằng Chiến đặt tôi biệt danh “Giáo sư Pyrit” và thêu dệt, bịa đặt đủ chuyện hài về tôi xung quanh cái chuyện tìm thấy kim cương này. 40 năm rồi, không biết bây giờ nó còn nhớ không? Biệt danh đó đeo đẳng tôi hết lớp 12. May thay, vào Đại học, bạn cũ chẳng ai nhắc đến biệt danh này nữa./.

5/6/2020

TVS



Thứ Tư, 27 tháng 5, 2020

PHÙ SA



                            THÁI VĂN SINH

Dòng sông chảy mãi
Để lại phù sa
Hồng thêm đất bãi
Xanh màu bao la.

Cuộc đời sẽ qua
Những gì ở lại
Sẽ là phù sa
Đọng vào năm tháng.

                     Vinh, 1981
                         TVS
Ghi chú:
Đây là bài thơ của mình được Giải Nhất trong cuộc thi trên Báo tường của Trường cấp III Năng khiếu Phan Bội Châu – Nghệ Tĩnh năm 1981. Tiếc là gần 40 năm, mình đã quên mất 2 khổ, không tài nào nhớ được. Tất nhiên nó còn may mắn hơn rất nhiều những gì mình đã viết vì cất ở quê đã bị mối ăn sạch mà chẳng thể nhớ lại được. Mong các bạn ai thuộc hoặc có sổ chép tay còn giữ gửi cho mình bổ sung cho đầy đủ. Cảm ơn.

Chủ Nhật, 24 tháng 5, 2020

GẶP LẠI HẢI HÀ

Giữa 2019, bạn Hải Hà từ Mỹ về, 12 văn có một cuộc hội tụ bạn bè thật vui. Giới thiệu với các bạn một vài hình ảnh đó. Mời bấm vào link sau để xem 
https://www.youtube.com/watch?v=aNoblVFEufY


Thứ Năm, 21 tháng 5, 2020

Thứ Tư, 20 tháng 5, 2020

VIDEO HỘI KHÓA NHÂN KỶ NIỆM 30 NĂM RA TRƯỜNG - PHẦN 4

Mời các bạn bấm vào link sau để xem Hội khóa nhân kỷ niệm 30 năm ra trường phần 4, Giao lưu tại bãi biển Thiên Cầm https://youtu.be/pEpxpdEzI_c


Chủ Nhật, 17 tháng 5, 2020

VIDEO HỘI KHÓA KỶ NIỆM 30 NĂM RA TRƯỜNG PHẦN II

          Mời các bạn bấm vào link sau để xem https://www.youtube.com/watch?v=2e8cZZmDoiU


VIDEO HỘI KHOÁ KỶ NIỆM 30 NĂM RA TRƯỜNG PHẦN 1

 Mời các bạn bấm vào link sau để xem phần 1 https://www.youtube.com/watch?v=EPehWclCHHk


Mình đăng cái video Hội khoá kỷ niệm 30 năm. Do không thể đăng lên blog nên mình đăng qua YouTube và cũng phải chia thành 4 phần  vì YouTube của mình không cho đăng quá 15 phút.

Chủ Nhật, 10 tháng 5, 2020

THƯ NGỎ



Hà Tĩnh, 10/5/2020
Các bạn Văn – Toán khóa 1979-1982  Trường cấp 3 Năng khiếu Phan Bội Châu thân mến!
Mình làm cái blog này mong nó trở thành một địa chỉ để chúng ta giao lưu, gắn kết với nhau. Ý tưởng này có từ lâu với dự định làm website nhưng thôi làm dạng blog cũng được. Nếu sau này phát triển tốt ta làm website.
Để đảm bảo tính riêng tư, các thông tin trong blog này chỉ có ai là thành viên mới xem được. Thành viên của chúng ta là học sinh 2 lớp và các thầy cô. Tuy nhiên trước mắt khi mình chưa có đầy đủ thông tin của mọi người nên chưa thể đặt chế độ thành viên và do vậy blog này đang ở chế độ ai cũng xem được nên mình chưa đưa các thông tin thật riêng tư (gia đình, vợ con, chức vụ vvv)...
Về nội dung mình kết cấu blog như sau: THÀNH VIÊN (Thông tin về từng bạn một trong khóa – trước mắt mình đã đăng danh sách đề nghị các bạn bổ sung cho đầy đủ, gửi thêm ảnh về gia đình, con cái để mình giới thiệu); KỶ NIỆM (đăng các kỷ niệm do các bạn viết lên); THƠ – VĂN (đăng các sáng tác của các bạn);  ẢNH – VIDEO (đăng các ảnh, video do các bạn cung cấp). Các bạn bấm vào các mục này trên thanh ngang để xem từng chuyên mục.
Địa chỉ blog như sau: https://12vantoanphanboichau.blogspot.com/
Để làm blog, mình đề nghị các bạn cung cấp thông tin để làm thành viên và gửi bài, ảnh, video, đặc biệt là ảnh tư liệu xưa cho mình qua e-mail: thaivansinh@gmail.com.
Mình gửi thư này cho các bạn qua E– mail mình lưu hồi kỷ niệm 30 năm (2012) và facebook. Có thể có một số địa chỉ đã thay đổi nên không đến được, mong mọi người thông báo hộ qua các phương tiện truyền thông khác.
                                                          Rất mong mọi người hưởng ứng.
                                                                         
                                                                   THÁI VĂN SINH

ẢNH TƯ LIỆU LỚP VĂN VÀ TOÁN

12 VĂN 5-1982

Trong ảnh: Từ 31 học sinh năm lớp 10 đến năm lớp 12 còn 22 học sinh trong ảnh, bên phải sang:
Hàng đầu: Nguyễn Thị  An; Phạm Thị Huệ; Nguyễn Thị Ngân; Lê Thị Kim Dung; Nguyễn Thị Hà; Lê Thị Hải Đương;
Hàng thứ  hai: Trần Văn Dũng  và các thầy: Trần Hữu Dinh;  Đinh Văn Thông; Phan Huy Tuấn; Lê Thái Phong; Lê Đức Kiêm  bạn Bùi Thị Minh Huệ
Hàng thứ  ba: Chu Vĩnh Hải; Võ Hồng Hải; Trần Anh Chiến; Thái Văn Sinh; Nguyễn Thị Huệ; Nguyễn Thị Oanh;
Hàng thứ  tư: Nguyễn Huy Tiến; Phạm Văn Lợi; Trịnh Văn Hạnh; Hồ Phi Cường; Nguyễn Đình Trung; Nguyễn Thanh Bình; Phanh Huy Hồng; Nguyễn Thị Hảo.

12 TOÁN 5-1982

TÂM SỰ MÙA HỌP LỚP




Hai đứa nằm xuống khép tuổi xanh
Một thằng bệnh nặng mộng chưa thành
Tháng 8 vào Qui Nhơn họp mặt
29 đứa đâu giờ điểm danh


40 năm trước vô Hưng Lộc
Kết bạn trên vùng cát trắng phau
Nửa đêm gà gáy chong đèn học
Còn nhớ không ai giấc mộng đầu


Bạn về nhớ gọi thêm dăm đứa
Nghe chuyện ngày xưa để khóc cười
Chúng mình bây giờ không trẻ nữa
Chỉ còn một chút nhớ thương thôi


Mấy bạn Việt Kiều không về được
Giờ này chắc mắt ướt mi cay
Nửa vòng trái đất xa là thế
Chẳng biết làm sao mới đủ đầy

                              Quy Nhơn 2019
                          VÕ HỒNG MINH